Why is transportation important to Economic Geography?

May 10, 2010 Leave a comment

Transportation is one of the most determining factors for where economic activity can be. Industries need to have access to raw materials and the ability to see them while maintaining a profit. Residences have to have access to work in the city, and will develop wherever the transportation can get them there, traditionally around interstates, rail centers and around remote industries. Commercial areas require access to high volumes of people to have enough demand to make a store worthwhile, and prefer city centers or junctins where traffic is high. Improving access will make further development possible, and interrupting it will have to opposite effect, cutting out working areas from the economy. Traffic congestion, then, is a problem worth taking seriously.

Personal transport vs bulk transport

Raw materials, manufactured items and other goods transported over large distances in volume are currently handed well. Cargo ships are the most efficient means of moving goods by the ton, and urgent packages are best handled by aircraft. Once on the ground, the goods still have to be delivered to their final destinations, normally by truck, or freight train if the volume is high enough. It is unlikely the bicycle will replace these functions, and they will remain in place for some time to come.

Personal transport, however, is much different. A large portion of the trips taking from residences to the urban center is for commuting to work, moving just one person and/or a briefcase. Here there is more room for creativity, as they can either move themselves or join others moving between locations in volume. Currently, personal transport takes the great majority of interstate and urban space, where automobiles outnumber cargo trucks by a great margin.

Inefficiency of automobiles

In and around most large cities in the developed world, traffic demand often exceeds the capacity of the road, and rush hour begins, where the transport flow slows or stops altogether for a time. The result: The economy of the city is put on hold, and the delay grows worse every year as traffic volume increases.

Personal Automobiles are by far the largest contributor to this congestion, outnumbering trucks and buses by a great margin. Even a car with four occupants still requires more room per passenger than a bus. Magnifying this is the fact that most autos on the road carry only their driver; In Los Angeles today, every 10 cars carries only eleven people. Compressing this volume or replacing it has great potential for freeing the roads.

Cars do even worse when the full cost of using them is accessed. First, cars are expensive, and commonly take several hundred dollars to maintain over the course of a year. Second, every commuting trip taken by an auto requires moving over a ton of cargo even without the passengers, requiring daily expenditures for gas. A side effect of the volume of energy used by autos is seen in Los Angeles again, where car exhaust accounts for 60% of the smog, causing personal injury that is difficult to assess. Lastly, every trips adds stress to all roads and bridges crossed, eventually making multi-million dollar repairs necessary, causing further delay.

Reasons autos are so popular in the US

  1. The primary reason is that cars, when undelayed, can travel directly from one location to another at a high rate of speed.
  2. The cost of gasoline in the US is taxed very lightly, and steps are taken to keep it available at low cost. Prices in Europe are often three times as high, with the taxes used to maintain construction.
  3. The introduction of the automobile originally opened up wide areas of the surrounding countryside for development. Due to pollution and other urban problems, residents who could afford cars moved out and founded the suburbs, connected exclusively by the automobile. The massive use of autos prompted businesses to lay out land for parking lots, and select less expensive land to build one, creating large areas of low-density development where slower modes of transportation aren’t as effective.
  4. Public funding was primarily channeled into interstate and highway development instead of alternate types of mass transit, making it more difficult for those that want to use public transport to get it, encouraging further use of the automobile.
Categories: Transportation Tags:

Không ai dạy tôi ước mơ

October 28, 2009 Leave a comment

26/10/2009 03:38:15

(SVVN)TS Giáp Văn Dương (Khoa Hoá, Đại học Liverpool) là cái tên khiến cho nhiều sinh viên người Việt đang theo học ở Anh luôn cảm thấy tự hào.

TRƯỞNG THÀNH TỪ… KHÔNG ƯỚC MƠ

Anh có thể mô tả qua công việc của mình?

Tôi nghiên cứu các loại vật liệu mới, như các hạt nano từ nhằm ứng dụng cho lĩnh vực y-sinh học, hoặc các loại vật liệu mới đa chức năng, có thể thay thế những vật liệu cũ đắt đỏ, độc hại hoặc đơn giản là để hiểu thêm một tính chất mới.

Ước mơ lớn nhất của anh hồi nhỏ là gì?

Thật xấu hổ khi phải nói là hồi nhỏ tôi không có ước mơ. Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn, nơi đó mọi người thường chỉ chăm chú làm việc đồng áng, mùa vụ từ sáng sớm đến tối mịt mà quên mất những ước mơ. Tôi cũng vậy, như cây lúa, đến ngày đến tháng thì làm đòng, trổ bông. Hết phổ thông, tôi vào đại học.

Vậy động lực nào để một thanh niên nông thôn vượt từ tư duy “lũy tre làng” sang “tư duy toàn cầu”?

Thực sự, ban đầu là do mình tò mò. Tò mò muốn biết thế giới bên ngoài Việt Nam họ sống và làm việc thế nào. Sau đó là do nhu cầu, tôi nghĩ mình cần phải thay đổi từ tư duy Việt Nam, không phải là tư duy sau lũy tre làng, sang tư duy toàn cầu.

Muốn thành công, ít nhất cũng phải ngang bằng ở mức độ tư duy so với bên ngoài. Nếu thua ở ngay khâu tư duy, khâu lên kế hoạch, thì thất bại là chắc chắn.

Từ khi nào anh nghĩ đến chuyện đến làm việc ở một trường đại học quốc tế như Đại học Liverpool?

Từ năm 2006, sau khi tôi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Vienna (Áo). Tôi muốn hoàn thiện thêm kỹ năng nghiên cứu, và muốn xem nghiên cứu trong các trường đại học Anh khác với các nước khác, cụ thể là Việt Nam, Hàn Quốc và Áo (những nơi tôi đã theo học và làm việc) như thế nào.

Tôi cũng muốn trực tiếp tìm hiểu thêm hệ thống giáo dục Anh, vì thời gian đào tạo ngắn, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, và thu hút một lượng sinh viên quốc tế khổng lồ đến du học. Tôi quan tâm đến giáo dục, nên muốn tìm hiểu và trực tiếp trải nghiệm nhiều nền giáo dục khác.

Tại sao hồi sinh viên anh lại chọn và theo đuổi ngành Hóa học?

Tôi chọn ngành Hóa dầu của Bách khoa vì ngày đó cả nước đang hồ hởi với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nhưng do việc xây dựng chậm tiến độ, nhà máy hoàn thành sau khi tôi ra trường được mười năm.

Ngần đó thời gian đủ để đưa tôi sang học và làm việc ở những ngành khác như Vật lý, Công nghệ nano, nên hiện giờ, tôi làm lĩnh vực liên ngành, chứ không chỉ thuần túy là Hóa học.

Theo anh, sự chọn ngành nghề thời đại học có ảnh hưởng đến sự thành đạt của một người không?

Ban đầu thì có, nhưng càng về sau sự ảnh hưởng càng ít. Người ta sẽ dần dần trở về với điều mình thực sự đam mê. Sự thành công suy cho cùng là kết quả của một sự phấn đấu lâu dài chứ không phải là sự lựa chọn một vài bước đi ban đầu nào đó.

Nếu đi sai những bước ban đầu, hãy dũng cảm rẽ sang đường khác, con đường mà mình mong muốn, càng sớm càng tốt.

Như anh nói ở trên, hồi nhỏ anh không có ước mơ. Vậy điều gì là quan trọng nhất để một người trẻ (như anh) có thể thành công?

Đó là phải có một nền tảng văn hóa tốt, sáng tạo, giao tiếp hiệu quả và bước đi không ngừng. Nền tảng văn hóa tốt, bao gồm cả nền tảng giáo dục, làm cho mình cảm thấy tự tin, vững vàng ở tất cả mọi nơi.

Sáng tạo là con đường đi đến thành công trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay. Còn giao tiếp hiệu quả và bước đi không ngừng giúp cho những kế hoạch và dự định trở thành hiện thực.

Ngoài chuyên môn, anh còn quan tâm đến lĩnh vực nào?

Giáo dục, văn hóa và chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Vì tôi cho rằng, nâng cao chất lượng giáo dục là con đường duy nhất để Việt Nam có thể phát triển nhanh và bền vững.

Giữ vững bản sắc văn hóa là cách duy nhất để giữ cho dân tộc trường tồn, không bị đồng hóa, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa và Internet, sự xâm thực của văn hóa lạ, văn hóa ngoại lai đang trở nên báo động, đe dọa nghiêm trọng văn hóa Việt.

Còn chủ quyền biển đảo là thiêng liêng ngàn đời của cha ông truyền lại, cần phải gìn giữ.

ĐIỀU QUAN TRỌNG ĐỂ THÀNH CÔNG

Anh có kinh nghiệm gì chia sẻ với các bạn sinh viên trẻ?

Hãy chọn một thứ mình thực sự đam mê, có thể chìm đắm với nó, kiên nhẫn với nó, hiểu nó thật kỹ và tìm cách đi qua những giới hạn mà người khác đã đạt được bằng  sự sáng tạo và cần mẫn của chính mình.

Triết lý sống mà anh đang theo đuổi là…?

Đơn giản, hoàn hảo và đẹp ở mức cao nhất có thể. Đơn giản làm cho cuộc sống dễ chịu hơn. Ước vọng hoàn hảo làm cho người ta phải phấn đấu. Còn đẹp làm cho người ta thấy yêu và nhân ái với cuộc sống này hơn.

tai mot trang trai trong da^u o Anh.jpg

Nếu có một ước muốn trở thành sự thật, anh sẽ chọn điều nào trong những điều sau:

A) Đoạt giải Nobel Hóa học 2015.

B) Nhận một lời mời hấp dẫn từ Bộ GD&ĐT Việt Nam đảm trách một cương vị rất quan trọng.

C) Một giảng viên bình thường ở một trường đại học ở Việt Nam, nhưng chế độ đãi ngộ xứng đáng.

D) Một doanh nhân giàu có số 1 châu Á.

Tôi không chọn điều nào cả, bởi tất cả những điều đó đều là những thứ viển vông. Hồi nhỏ, tôi không có ước mơ vì không ai dạy tôi ước mơ. Giờ thì tôi biết, nên ước mơ những điều có thể thực hiện được. Vì nếu không, sẽ phí hoài thời gian và năng lượng vào những mơ ước viển vông.

Nobel vào năm 2015 là một điều không tưởng với bất cứ người Việt Nam nào. Việt Nam cần hàng chục năm, thậm chí lâu hơn nữa, để có thể chạm tay vào giải Nobel.

Một lời mời hấp dẫn từ Bộ GD& ĐT hoặc một giảng viên bình thường nhưng chế độ đãi ngộ xứng đáng chắc chắn cũng không xảy đến trong hoàn cảnh hiện nay.

Còn doanh nhân số 1 châu Á, điều này hấp dẫn, nhưng tôi không có ý định theo đuổi con đường kinh doanh, nên nó nằm ngoài dự định của tôi.

Vậy nếu được chọn một điều gì đó, anh sẽ…?

Có thật nhiều bạn trẻ tham gia vào dự án Tri Thức Mở mà tôi sáng lập: biên dịch tài liệu các khóa học của các trường đại học hàng đầu thế giới ra tiếng Việt. Hiện tại, chúng tôi đang rất thiếu người. Hãy tham gia và chung tay cùng chúng tôi.

Điều gì khiến anh tồn tại và khẳng định bản thân?

Một nền tảng kiến thức rộng và một chuyên môn sâu. Ý tưởng mới và sự chăm chỉ đóng vai trò quyết định. Hợp tác hiệu quả với đồng nghiệp, bạn bè cũng rất quan trọng.

Theo cảm nhận của anh, điều gì đáng lo ngại nhất cho thế hệ trẻ hiện giờ?

Chông chênh, đôi khi nhầm lẫn giữa các thang giá trị. Sống chậm và sống vội cùng một lúc. Thích a dua, theo đuổi những thứ phù phiếm. Đến khi ra trường vẫn chưa định hình nổi một tính cách, một khuôn mặt. Rất đáng buồn và chẳng hay ho gì khi nói ra điều đó!

Anh làm gì vào thời gian rảnh rỗi?

Thăm bảo tàng, tụ tập bạn bè, uống trà Việt, đọc sách, chơi với con… Nếu có thời gian dài hơn thì đi du lịch và thăm bạn ở những thành phố khác.

Anh có dự định gì trong tương lai gần?

Biên dịch các khóa học ra tiếng Việt và viết bài, tài liệu về một số chủ đề mà tôi yêu thích. Làm một số việc mà tôi cho rằng có ích cho Việt Nam.

Và có ý định anh sẽ về Việt Nam không?

Những việc tôi làm sẽ dẫn tôi trở lại Việt Nam. Khi tôi thấy có công việc phù hợp, có thể phát huy đuợc khả năng của mình. Cũng có thể, tôi sẽ trở về khi cảm thấy đã đến lúc phải trở về, vì như đã nói ngay từ đầu, tôi là một người thuần Việt, nên dù đi đâu cũng vẫn hướng về Việt Nam.

Cảm ơn anh!

http://www.svvn.vn/vn/news/nhanvat/2753.svvn

LÊ NGỌC SƠN (Thực hiện)

TS Giáp Văn Dương
Khoa Hóa học, Đại học Liverpool.
Sinh năm 1976 tại Bắc Giang.
Tốt nghiệp kỹ sư ngành Hóa dầu Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1999, tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Công nghệ Hóa học ĐH Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) năm 2002, tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Vật lý kỹ thuật ĐH Công nghệ Vienna (Áo) năm 2006. Hiện làm việc tại ĐH Liverpool (Anh).

Categories: SinhvienVN Tags:

Một cách nhìn khác về tập đoàn kinh tế

October 26, 2009 Leave a comment

Khái niệm tập đoàn kinh tế được nhắc nhiều ở Việt Nam từ năm 2005 khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập thí điểm Tập đoàn kinh tế. Nhiều bài báo, phát biểu, nhận xét đã được đưa ra để đánh giá các mặt được, chưa được của mô hình doanh nghiệp này. Ở bài trao đổi này, TS Nguyễn Đức Kiên muốn cung cấp một cách nhìn khác về mô hình tổ chức sản xuất của khu vực doanh nghiệp này.

LTS: Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Đức Kiên có một góc nhìn khác về tập đoàn kinh tế. Mời bạn đọc tham gia tranh luận.

Có thể nói, ở mỗi thời kỳ chúng ta có cách gọi tên mô hình khác nhau, nhưng xét về bản chất kinh tế của doanh nghiệp thì mô hình sơ khai của tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước được hình thành từ Nghị quyết Trung ương 3, khoá IV của Đảng với tên gọi: “Liên hiệp các xí nghiệp”, là “trong công nghiệp, ở những nơi có điều kiện cần tổ chức các liên hiệp xí nghiệp có đủ quyền hạn và trách nhiệm là những đơn vị kế hoạch, đơn vị kinh doanh của ngành…”.

Như vậy, ngay từ đầu, chúng ta đã khẳng định sự tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế, bước đầu hình thành ý tưởng tách quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh, xác định rõ nhiệm vụ của mô hình sản xuất mới của doanh nghiệp. Sau một thời gian ngắn tổ chức thực hiện, Hội nghị Trung ương 6, khoá IV tiếp tục cụ thể hoá quá trình tổ chức liên hiệp xí nghiệp: “tổ chức sản xuất phải theo hướng từng bước thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá và liên hiệp hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao… Các liên hiệp xí nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế.

Việc tổ chức liên hiệp các xí nghiệp phải được tiến hành chu đáo, vững chắc, đạt hiệu quả kinh tế thiết thực, không để trở thành cấp trung gian hình thức”.

Lần đầu tiên cụm từ “tập đoàn kinh tế” được xuất hiện trong Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII: “Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hướng tổ chức các tập đoàn kinh tế, khắc phục tính chất hành chính trung gian”.

Việc nghiên cứu và tìm hiểu quá trình hình thành, sử dụng cụm từ “tập đoàn kinh tế” trong các nghiên cứu, văn kiện của Đảng chính là cơ sở để có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan về mô hình tổ chức sản xuất này. Như một số đoạn trích đã nêu trên, chứng tỏ tư duy về mô hình tổ chức sản xuất của nhóm doanh nghiệp cũng phát triển với quá trình đổi mới tư duy kinh tế phù hợp với thực tế phát triển lực lượng sản xuất, phát triển đời sống xã hội và bối cảnh kinh tế quốc tế. Muốn thực hiện công nghiệp hoá theo hướng hiện đại thì phải đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực. Tương ứng với quá trình này là những doanh nghiệp có quy mô ngày một lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Từ thực tế chúng ta thấy quá trình triển khai đã được tiến hành khá thận trọng: từ văn bản có tính pháp lý thấp (quyết định của Thủ tướng) qua một số năm mới ban hành văn bản cao hơn (Nghị quyết của Chính phủ) và cuối cùng là văn bản pháp quy cao nhất để hình thành tập đoàn kinh tế (Luật Doanh nghiệp năm 2005). Tuy vậy, có thể nêu ra một số vấn đề cần phải tiếp tục hoàn thiện:

– Luật doanh nghiệp và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ mới chỉ là khung cho các tập đoàn của mọi thành phần kinh tế nhưng chưa nêu được các quy định có tính chất đặc thù của tập đoàn kinh tế, Tổng công ty sử dụng vốn nhà nước. Nói cách khác là chưa có sự ràng buộc đối với Chính phủ với tư cách là Người quản lý vốn tại doanh nghiệp Nhà nước.

Có thể đưa ra một ví dụ: Để giúp cho 62 huyện nghèo nhất cả nước nhanh chóng vượt khó khăn, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước chịu trách nhiệm hỗ trợ trực tiếp các địa phương này về xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Qua một thời gian ngắn thực hiện được địa phương và nhân dân 62 huyện ghi nhận chuyển biến bước đầu quan trọng về hiệu quả hỗ trợ.

Vấn đề đặt ra ở đây là: Quyết định đó là của cơ quan quản lý nhà nước hay của chủ sở hữu?

Khi thực hiện quyết định này thì tập đoàn kinh tế, tổng công ty lấy nguồn từ đâu và hạch toán cuối năm như thế nào? Nếu là từ lợi nhuận trước thuế thì có sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp có chủ sở hữu khác nhau, làm tăng chi phí của doanh nghiệp nhà nước?

Còn nếu lấy lợi nhuận sau thế, thì cần phải đối chiếu với Luật Ngân sách nhà nước, Luật Lao động (vì liên quan đến quỹ lương, thưởng của người lao động).

Còn đây là từ nguồn vận động đóng góp của người lao động trong doanh nghiệp thì phải theo Luật Mặt trận tổ quốc và các quy định hiện hành về đóng góp và phân phối, quản lý nguồn kinh phí từ thiện này.

– Trong quá trình nghiên cứu, tổng kết mô hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chúng ta chưa làm rõ được vấn đề: Mô hình tập đoàn có phải là mô hình tiên tiến nhất cần phải đạt đến trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hay không? Trong nền kinh tế thị trường có tồn tại các loại mô hình sản xuất kinh doanh khác của doanh nghiệp nữa hay không?

Đặt ra câu hỏi này cũng là chúng ta tự trả lời về các mô hình tổ chức của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.

– Còn một vấn đề nữa, theo tôi rất quan trọng. Nếu nói theo khoa học kinh tế chính trị, đó là mối tương quan giữa lực lượng sản xuất, với quan hệ sản xuất. Do xuất phát điểm thấp nên chúng ta tiến hành quá trình công nghiệp hoá không như các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Quá trình phát triển và mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đều bỏ qua quá trình tích luỹ tiền tư bản, không chỉ dựa vào lợi nhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh của bản thân doanh nghiệp mà chủ yếu dựa vào nguồn vốn của chủ sở hữu là nhà nước.

Căn cứ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đã đặt ra cho từng thời kỳ kỳ mà nhà nước với tư cách chủ sở hữu cấp vốn hay bảo lãnh vay để doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất.

Chính vì vậy, đội ngũ những người làm quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nhà nước vẫn có những hạn chế nhất định so với yêu cầu của chủ sở hữu khi mở rộng hoặc đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh.

Do đó khi chuyển sang mô hình mới, chủ sở hữu không phân giao nhiệm vụ rõ ràng, quyền lợi và quyền hạn chưa đồng bộ đã làm phát sinh những hạn chế không đáng có trong quá trình này, chưa tạo được sự đồng thuận của đội ngũ những người làm quản trị doanh nghiệp.

Ba nhóm vấn đề vừa nêu nếu được xử lý tốt, người viết tin rằng sẽ tạo được sự đột phá trong xây dựng và phát triển các tập đoàn, tổng công ty có sử dụng vốn nhà nước.

TS Nguyễn Đức Kiên

http://www.tuanvietnam.net/2009-10-20-mot-cach-nhin-khac-ve-tap-doan-kinh-te

Categories: Kinh tế, Vietnamnet Tags:

‘Sẽ quy hoạch 10 đô thị vệ tinh’

October 26, 2009 Leave a comment

“Dự báo Hà Nội sẽ có 10 đô thị vệ tinh và một sân bay dự phòng. Trụ sở các bộ, ngành nằm trong quần thể chung, tạo thành trung tâm hành chính quốc gia”, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thế Thảo trao đổi với VnExpress.net về Quy hoạch thủ đô.

– Với cương vị Phó chủ tịch Hội đồng thẩm định nhà nước về quy hoạch Hà Nội, ông hình dung thành phố Hà Nội vào năm 2030 như thế nào?

– Chúng ta đang tiến hành quy hoạch một đô thị trung tâm đa hệ, đa tầng, cộng với các đô thị vệ tinh xung quanh. Thành phố đang mở đường để phát triển các đô thị vệ tinh. Dự báo Hà Nội sẽ có 10 đô thị vệ tinh, có thể phát triển đến 10 triệu dân.

Hà Nội sẽ đầu tư cho Xuân Mai, Hòa Lạc, Phú Xuyên, Sóc Sơn, Mê Linh… tạo thành đô thị, để kéo dân cư nội đô. Ngoài ra, cần tạo ra các đô thị nông thôn, để người dân nông thôn không phải kéo vào nội đô làm việc, gây quá tải cho hạ tầng.

Xu thế sắp tới là như vậy song chúng ta cũng phải tính toán khả năng quỹ đất và điều kiện khác

Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo. Ảnh: Hoàng Hà.
– Trong Quy hoạch chung Hà Nội trình Thủ tướng sắp tới, trung tâm hành chính quốc gia sẽ có quy mô như thế nào?

– Trước tiên, chúng ta phải đưa ra tiêu chí để liên danh tư vấn quốc tế PPJ có căn cứ thực hiện. Nhiều bộ ngành hiện nay có cơ sở vật chất cũ, diện tích chật hẹp, không đảm bảo việc điều hành nên cần phải xây dựng lại.

Nếu các bộ, ngành nằm trong một quần thể chung, tạo thành trung tâm dịch vụ hành chính thuận lợi cho người dân khi đến làm việc. Tất nhiên, có những bộ đặc thù như Bộ Quốc phòng có thể không nhất thiết đặt ở đó.

– Theo ông Trung tâm hành chính quốc gia nên đặt ở đâu sẽ có có nhiều thuận lợi?

– Nếu đề bài đặt ra là Trung tâm hành chính gắn liền với đô thị để tạo thành một đô thị hành chính, thì sẽ phải đưa hẳn ra bên ngoài. Còn nếu chỉ cơ cấu lại cơ quan hành chính mà không đồng bộ với đô thị thì sẽ phải đặt trong khu chức năng nào đó của Hà Nội hiện tại để người dân không phải đi lại quá xa.

Vừa qua, đơn vị tư vấn đã gợi ý trục không gian từ Hồ Tây lên Ba Vì có thể chọn lấy một điểm làm trung tâm hành chính, có thể đặt ở Phú Diễn. Ngoài ra, điểm nghiên cứu khác là đặt tại Tây Hồ Tây bởi có cảnh quan đẹp. Nếu đặt tại khu vực này thì trục giao lưu quốc tế ở Bắc Thăng Long Nội Bài đến Trung tâm chính trị rất gần.

Hiện, quỹ đất khu vực Hồ Tây chỉ còn để phục vụ cho dự án Tây Hồ Tây. Nếu quyết định Trung tâm hành chính đặt tại đây thì sẽ phải chuyển dự án Tây Hồ Tây đi chỗ khác.

Hà Nội sẽ phát triển nhiều thành phố vệ tinh. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.
– Một dự án lớn khác của thành phố Hà Nội là thành phố 2 bên bờ sông Hồng. Trong quy hoạch Hà Nội tương lai, dự án này sẽ đóng vai trò gì?

– Thủ tướng đã có ý kiến đưa quy hoạch sông Hồng lồng ghép vào quy hoạch chung. Lâu nay, chúng ta “quay lưng” với sông Hồng, phát triển không theo quy hoạch. Nay chúng ta phải “quay mặt” vào sông Hồng, xem đó là cơ hội để phát triển đô thị. Hàn Quốc đang giúp Việt Nam nghiên cứu về quy hoạch, các phương án còn phải thảo luận nhiều chiều. Trên cơ sở đó, quyết định thực hiện như thế nào là quyền của chúng ta.

– Với một thủ đô mở rộng và có dân số dự báo 10 triệu dân trong năm 2030, vấn đề xây dựng sân bay mới bên cạnh sân bay Nội Bài được xem xét thế nào?

– Ý tưởng xây dựng sân bay thứ hai không phải chỉ hàm ý là do sân bay Nội Bài nhỏ hẹp mà đây là sân bay dự phòng để đỗ máy bay lớn. Tuy nhiên, Hà Nội sẽ không phải là điểm trung chuyển, trung tâm kinh tế như TP HCM. Tại một số nước, sân bay ở thủ đô khá nhỏ còn sân bay các thành phố thì lớn.

Xu hướng được đưa ra là xây dựng sân bay tại phía bắc Hà Nội. Không cứ sân bay của Hà Nội là phải nằm ở Hà Nội.

Thủ tướng vừa ký quyết định thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước thẩm định đồ án quy hoạch chung xây dựng Hà Nội đến năm 2030. Bộ trưởng Xây dựng Nguyễn Hồng Quân làm Chủ tịch hội đồng; Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo làm Phó chủ tịch hội đồng.

Hội đồng có nhiệm vụ tổ chức thẩm định đồ án quy hoạch để trình Thủ tướng xem xét, phê duyệt; đồng thời có quyền yêu cầu các bộ, ngành và các cơ quan liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đồ án quy hoạch để phục vụ công tác thẩm định; yêu cầu tư vấn bổ sung hồ sơ để đáp ứng các yêu cầu thẩm định.

Quy hoạch chung Hà Nội sẽ phải hoàn thành dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long (10/10/2010).

Việt Anh – Đoàn Loan

http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/10/3BA14E6A/

Categories: VnExpress, Đô thị Tags:

Kinh tế

October 26, 2009 Leave a comment
Categories: ODA

Hello world!

October 26, 2009 1 comment

Welcome to my blog. This is for my own reading and purposes. Enjoy your time on this page.

RGRDS

Categories: Uncategorized